Trang tin VinaREN

 

Trong quá trình triển khai, đơn vị chủ trì sẽ tổ chức nghiên cứu kinh nghiệm quản lý, vận hành của các mạng tương tự trên thế giới và khu vực, từ đó sẽ đề xuất cụ thể các chính sách và mô hình quản lý, vận hành thích hợp cho  VinaREN để đảm bảo sự phát triển bền vững theo một lộ trình phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Do các tổ chức KH&CN tham gia kết nối VinaREN được thụ hưởng hạ tầng kỹ thuật mạng mạnh, được trao đổi và chia sẻ tài nguyên thông tin và các dịch vụ trên mạng trực tiếp với các đối tác trong và ngoài nước nên các tổ chức này cũng phải có nghĩa vụ đóng góp để duy trì và phát triển mạng mà trước hết là vận hành và đưa các thông tin về hoạt động nghiên cứu, đào tạo của mình lên mạng. Đó chính là cơ sở để mạng VinaREN có thể phát triển bền vững vì nó đảm bảo lợi ích của các bên tham gia, phù hợp với xu hướng  phát triển và hội nhập hiện nay.

5.3. Cơ chế tài chính của VinaREN

+ Tài trợ quốc tế về đường truyền kết nối VinaREN với TEIN2 và TEIN3.

Trong giai đoạn 2 triển khai Mạng Thông tin xuyên Á-Âu (TEIN2), từ tháng 5-2006 đến 30-9-2008, Việt Nam được hưởng 80% kinh phí kết nối quốc tế do EU tài trợ. Bộ Khoa học và Công nghệ đóng góp 20% kinh phí kết nối quốc tế Hà Nội – Hồng Kông. TEIN2 sẽ kết thúc vào 30 tháng 9 năm 2008.

Giai đoạn 3 của Mạng Thông tin xuyên Á-Âu (TEIN3) sẽ bắt đầu từ 30-10-2008 đến 31-12-2011. Ủy ban Châu Âu đã quyết định tài trợ cho TEIN3, theo đó, từ 1-10-2008 đến 31-12- 2010, Việt Nam được hưởng 70% và từ 1-1-2011 được hưởng 60% phí kết nối quốc tế do EU tài trợ. Số kinh phí tương ứng 30% và 40% được Bộ Khoa học và Công nghệ đóng góp cho việc thuê đường truyền kết nối quốc tế. Từ năm 2012, Việt Nam phải trả nhiều hơn và dần đi đến trả hoàn toàn phí kết nối quốc tế (nếu không có nguồn tài trợ quốc tế khác). Bộ Khoa học và Công nghệ đã có thư cam kết với EU về việc Việt Nam sẽ tiếp tục tham gia và đóng góp tài chính đối với TEIN3 trong thời gian từ tháng 10-2008 đến hết tháng 12 năm 2011.

+ Nhà nước đảm bảo chi trả các chi phí sau:

-     Chi phí kết nối quốc tế với TEIN2/TEIN3 và kết nối Internet thương mại.

-     Các chi phí quản lý chung và xúc tiến VinaREN, đảm bảo hoạt động của Ban chỉ đạo, Ban tư vấn chính sách và kỹ thuật, Nhóm chuyên gia của VinaREN.

-     Chi phí tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế liên quan tới VinaREN.

+ Các đơn vị tham gia kết nối  VinaREN sẽ đảm bảo các chi phí:

-     Thuê bao đường truyền kết nối đến NOC khu vực hoặc miền.

-     Chi đảm bảo các hoạt động thường xuyên vận hành mạng, vật tư, năng lượng và bảo trì, bảo hành hệ thống thiết bị của đơn vị.

-     Chi phí khai thác, sử dụng, ứng dụng trên mạng phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, quản lý...  của mình.

Để có đường truyền tốc độ cao, giá thành hạ Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ để phát triển cơ sở hạ tầng riêng cho VinaREN.

Ngoài ra, các thành viên tham gia VinaREN có nghĩa vụ đóng góp kinh phí tham gia sử dụng mạng. Phí tham gia sẽ bù đắp một phần chi phí đường truyền do Nhà nước chi trả.

+ Sau năm 2008, mạng VinaREN từng bước chuyển thành mạng tự quản của các đơn vị tham gia, mở rộng và phát triển các hoạt động, dịch vụ có thu đảm bảo tự trang trải một phần, đảm bảo vận hành và khai thác hiệu quả mạng VinaREN.

+ Cơ chế chính sách và quản lý VinaREN từ năm 2009 trở đi sẽ được nghiên cứu xây dựng và ban hành trong quá trình triển khai VinaREN 2008.

VI.   KẾT LUẬN

Việt Nam đã bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế và bắt nhịp các xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá. Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo của nước nhà cũng trên con đường hội nhập quốc tế với không ít thời cơ và thách thức. Việc xây dựng, phát triển và khai thác VinaREN, một trong những yếu tố hàng đầu của hạ tầng cơ sở hiện đại cho nghiên cứu và đào tạo của một quốc gia, là một việc khó nhưng chúng ta đã nỗ lực hoàn thành. VinaREN đã kết nối 50 viện, trường, cơ sở nghiên cứu và đào tạo hàng đầu trong nước với nhau bằng một mạng hiện đại, tốc độ và hiệu năng cao. Thông qua TEIN2, VinaREN kết nối nghiên cứu và đào tạo nước ta với cộng đồng nghiên cứu và đào tạo của các nước châu Á-Thái Bình dương, châu Âu, Bắc Mỹ và toàn cầu. Việt Nam đã xuất hiện trên bản đồ thế giới các mạng nghiên cứu và đào tạo. Chúng ta có đủ điều kiện sẵn sàng tham gia các dự án hợp tác trong nước và quốc tế trên cơ sở mạng thông tin hiện đại, hiệu ứng cao, tốc độ lớn, tạo điều kiện tối đa để giới nghiên cứu và đào tạo nước ta tham gia và tiến hành các chương trình hợp tác nghiên cứu và đào tạo ở quy mô quốc gia, khu vực và quốc tế, góp phần thu hẹp  khoảng cách số giữa các vùng miền, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo trong nước và với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Có thể tin tưởng rằng với sự ủng hộ, hợp tác và tham gia tích cực của các Bộ, ngành và các địa phương hữu quan, các đơn vị nghiên cứu và đào tạo trong cả nước, VinaREN sẽ được triển khai, phát triển và khai thác một cách mạnh mẽ, rộng rãi,  mang lại hiệu quả thiết thực cho đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay của nước ta.

Với việc đưa VinaREN vào khai thác trên quy quốc gia và toàn cầu, giới nghiên cứu và đào tạo nước ta chắc chắn sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để tăng cường sự gắn kết, hợp tác giữa nghiên cứu và đào taọ với sản xuất, kinh doanh, góp phần khẳng định vai trò quốc sách hàng đầu của khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

VinaREN thực sự là môi trường và công cụ kết nối, hợp tác cùng phát triển trong thời kỳ hội nhập.



 

Bạn đang xem  : Trang chủ Giới thiệu Giới thiệu về mạng VinaREN

Hỗ trợ kỹ thuật

Liên kết

Design template Hợp tác cùng phát triển

Thư viện điện tử

Tra cứu tài liệu trực tuyến.

Mã nguồn mở

 Joomlart Forum Học liệu mở